Thursday, September 27, 2018

Phan Tấn Uẩn - truyện ngắn



Phan Tấn Uẩn
Dưới Chân Trường Sơn
truyện ngắn

Về  truyện ngắn DƯỚI CHÂN TRƯỜNG SƠN:
Phóng Sự “ Trên Đường Về Nhớ Đầy” ( được Giải Thưởng VIẾT CHO QUÊ HƯƠNG DÂN TỘC  của báo  Tiếng Nói Dân Tộc) tôi viết dựa vào lời kể của một người bạn cùng khóa đi hành quân không đụng giặc lại gặp một bà mẹ kiểu Bà Mẹ Gio Linh của Phạm Duy. Phóng sự nầy sau đó được điều chỉnh lại cho phù hợp với văn phong của một truyện ngắn văn chương và gởi cho tuần báo Khởi Hành .Viên Linh ,thư ký tòa soạn đã đổi tựa thành Dưới Chân Trường Sơn và đăng trên Khởi Hành số 13 (bộ cũ trước 1975).
Bút hiệu Trần Phong ký vào bài đầu tiên là một tình cờ, ngẫu nhiên. Đọc một tài liệu sưu tầm đăng nhiều kỳ trên một nhật báo , nói về hoạt động của một đội quân bí mật mà viên sĩ quan chỉ huy  có bí danh là Trần Phong , chỉ  huy phó là Trần K.T. Tôi đã chọn  tên hai nhân vật nầy làm bút hiệu. Trần Phong xuất hiện rất nhiều trên các báo những năm 1960. Đến khi xuất hiện trên tuần báo văn học nghệ thuật Khởi Hành ,thì xẩy ra bước ngoặt khiến tôi phải từ bỏ bút hiệu nầy. Khi gởi truyện cho nguyệt san Văn với bút hiệu nầy, thì Trần Phong Giao ,thư ký tòa soạn , gởi cho tôi một bức thư đánh máy , nói rằng có người bạn của ông gọi điện thoại hỏi tại sao ông lại sử dụng bút hiệu cũ để đăng bài trên Khởi Hành. Ông cho biết Trần Phong là tên người con trai của ông đã mất lúc còn  nhỏ, ông thương nhớ con nên đã lấy tên con làm bút hiệu lúc còn ở miền Bắc. Vào Nam ông đã không dùng bút hiệu nầy nữa. Ông đề nghị tôi bỏ bút hiệu nầy. Từ đó tôi ký tên thật Phan Tấn Uẩn trên những sáng tác . Việc nầy tôi đã có dịp nói cho Viên Linh biết khi nhắc lại bút ký Dưới Chân Trường Sơn của tôi đăng trên Khởi Hành số 13 (bộ cũ) .Trước đó tôi cũng đã dùng nhiểu bút hiệu khác trên các nhật báo , như Phan Duy , Trần K.T , Vũ Phan …  
Xin kèm theo trên đây mấy mẩu LƯU DẤU  mà tôi rất thích đã giữ kỹ (PTU)

Khoảng chín giờ sáng, toán trinh sát chúng tôi âm thầm tiến vào khu vực quận Đại Lộc, Quảng Nam. Mặt trời đã lên cao. Con bóng trải dài dưới chân tôi thu ngắn hơn. Nắng bắt đầu hắt những tia lửa rát và bỏng  trên thịt da. Hành trang chúng tôi mang theo trong chuyến lục soát nầy cũng giống những lần trước. Ba lô gói gọn những thứ quân dụng cần thiết, chúng tôi còn chừa đủ hai tay tự do hầm hè hờm súng trước bụng. Giữa khoảng đồng ruộng, chúng tôi đang trên hướng tiến vào một ngôi làng. Cánh đồng lúa không trĩu nặng hạt, không cao dềnh dàng hiên ngang trước những cơn gió mùa, không nhìn ngợp mắt như một cánh đồng miền Nam. Với kích thước cây lúa khẳng khiu thấp bé, người ta dùng liềm cắt luôn một lượt cả rơm lẫn tót trong mỗi vụ gặt, có khi đập rời lấy thóc ngay tại ruộng. Tôi nghĩ đến vựa thóc dồi dào miền Nam. Những chuyến công tác trên những chuyến xe đò qua các miền quê lục tỉnh, những cánh đồng lúa no nê hạt trĩu xuống như những con vịt bầu bày ra trước mắt. Nó trái ngược với những gì ở vùng đất khô cằn sỏi đá nầy.
          Từ khoảng mênh mông ruộng lúa với mồ mả gò đống nhìn xa xa là lũy tre thôn xóm, cứ như thế, một khung cảnh quen quen bày ra rất khó phân biệt vùng đất Thừa Thiên –Quảng Nam đối với một khách lạ mới đến. Nếu những bộ bà ba đen và giọng nói địa phương thiếu vắng, bạn có thể nghĩ rằng bạn đang đứng  giữa một cánh đồng thuộc một trong hai xứ ấy.
          Cách khoảng hai trăm thước, chúng tôi làm những thủ hiệu cần thiết chuẩn bị mọi bất trắc trước khi tiến vào làng. Tin tình báo cho hay có một toán võ trang du kích đột nhập mở đường cho một đơn vị lớn tiến theo sau. Chúng tôi có nhiệm vụ lục soát ngôi làng để một đơn vị bạn sắp đến lập vòng đai an ninh bảo vệ. Trong phần vụ nầy, nếu gặp địch, chúng tôi phải tìm cách thanh toán tùy theo khả năng và hỏa lực đồng thời báo cáo cho đơn vị bạn phía sau. Nhiệm vụ đặt chúng tôi trước đầu gió ngọn sóng.
Định mệnh như hình với bóng theo sát chúng tôi và sẳn sàng gõ giờ báo tử. Bởi lẽ, chúng tôi lúc nào cũng trống trãi chơi  vơi, còn địch  thì ẩn nấp, bố trí trong những bụi rậm chung quanh. Ưu thế chủ động chiến thuật địch hoàn toàn nắm giữ, nên có thể dễ dàng tương kế tựu kế ăn gỏi chúng tôi.
          Lúc được biệt phái qua phục vụ ở đây, nỗi sợ hải e ngại không khỏi làm tôi rùng mình. Nhưng những chuyến đi thập tử nhất sinh dần dần biến chúng tôi thành ra chai lì và quen thuộc hẳn. Tuy thế, trước những giây khắc hồi hộp chờ đợi theo từng bước chân lần mò tìm đến mục tiêu, những con mắt hừng hực sắt lửa cũng phải e dè. Những bước tiến không phải hoàn toàn đẹp đẽ như những thiên anh hùng ca thường diễn tả. sau lũy tre là một rặng dừa. Trong bóng râm âm u dưới những tàng lá đó đang có gì chờ đợi chúng tôi ? Chúng tôi đổ dồn những cặp mắt về hướng ấy. tay ghì súng kỹ hơn, những nòng súng chĩa mũi vào đó. Tất cả đều mang dấu khả nghi. Hàng tre rặng dừa đứng im phăng phắc. Không một cánh chim lai vãng. Thiếu vắng tất cả mọi hoạt động. Phải chi lúc nầy tôi nghe được tiếng chim hót thì không khí chết chóc đang bủa vây nơi đây sẽ bớt nặng nề biết mấy. Đối với tôi, trên bình diện ý thức, không còn gì có thể so sánh  với ngôi làng nầy để làm tiêu biểu cho bộ mặt chiến tranh hơn nữa. Hình ảnh chiến tranh ở đây thật lạ lùng. Nó không mang những cảnh tượng đỗ nát hoang tàn, nhưng có không khí nghẹt thở với sự im lặng rợn người đến nổi cảnh vật phải im hơi.
          Chúng tôi dàn hàng ngang cẩn thận tiến chậm từng bước trong tư thế chiến đấu. Không ai bảo ai, chúng tôi dồn tất cả mọi chú ý vào một lùm cây đang lay động. Hình như có những đầu người nhấp nhô ? Họ đang rình xét chúng tôi ? Nhưng tại sao họ chưa nổ súng ? Hay sợ lộ mục tiêu ? Những bước tiến càng gần những nghi ngại càng được phát hiện. Sau lùm cây nằm giữa hai thân dừa, quả thật có bốn đầu người chụm lại, hình như họ đang áp sát, rúc đầu vào nhau tìm cách che chở nhau. Khi đã đến gần, tôi đưa tay làm hiệu cho đồng bọn dừng lại và hét lớn :
          - Ai ? giơ tay lên !
Không có tiếng trả  lời. Tôi lập lại tiếng thét, lần nầy nghe ghê rợn hơn :
          - Ai ? Giơ tay lên không tôi bắn...
          Bốn đầu người từ từ lên cao.  Hai bé gái, một bé trai và một bà già hiện ra. Bà lão giơ hai tay khỏi đầu và bước ra chỗ trống. Ba đứa bé lấm lét nhìn bà, cũng đưa những cánh tay vụng về giơ lên và bước theo sau. Khi chúng tôi nới lỏng tay súng ập vào, bà lão quỳ xuống đất. Bà chắp tay cúi mình lạy lia lịa trong lúc từng giọt nước mắt rơi lả chã xuống má. Chiến tranh dường như đã múc cạn nước mắt bà lão. chắc  hẳn bà muốn khóc thật lớn cho giòng nước kia tuôn xối xả ra ngoài để khóa tắt những họng súng, nhưng không thể được. Bà chỉ im lặng và biểu lộ ước muốn bằng những cử động lạy lục run rẩy. Ba đứa bé đưa mắt nhìn bà, bắt chước quỳ gối lạy chúng tôi. Chúng tôi quên mất điều mà đối phương  có thể sử dụng bà lão ở đây như một mưu kế. Nhưng đây không  phải là lối ngụy trang dối trá, mà là một thảm cảnh đứt ruột của người dân quê Việt Nam. Bà lão trước mắt chúng tôi đó, thân gầy đét, gương mặt chằn chịt vô số nếp nhăn, những nếp nhăn đủ tố cáo tội lổi tày trời do cuộc chiến gây ra - đói khổ mọi mặt mọi điều. Bộ bà ba đen không khác nào đang bọc nắm xương khô. Tôi liên tưởng đến một thân thể đầy đủ thịt da với chùm quang tuyến X rọi rõ lên cái bộ xương cách trí rả rời dài lỏng khõng. thật không còn gì quý hơn cái sống, bởi lẽ bà lão dù đã gần đất xa trời, sống để nhận chịu đủ thứ cực hình, bà vẫn bám sống. Hai đứa bé chỉ nhận diện ra chúng là con gái nhờ ở hai mái tóc kẹp thõng thả xuống. Với trạc tuổi mười, mười hai, chúng không khác gì con trai. Từ lớp da sạm nắng đến những cử động cứng cỏi trên một thân thể chắc thịt, tôi thấy chúng đã mất hết nữ tính. hẳn nhiên chúng đã làm tất cả những công việc dành cho con trai : cắt cỏ, chăn trâu, gánh lúa...Đứa bé trai trông nhỏ tuổi nhất. Nó ngơ ngác nhìn từ người nầy qua người khác trong lúc hai tay vẫn đưa lên hạ xuống như một cái máy. Chúng tôi không thể nào ngờ được một tình huống xẩy ra kỳ lạ như thế.
          Thấy bà lão vẫn còn lạy, tôi cất tiếng :
          - Bà đứng dậy, không can gì đâu . 
          Bà vẫn còn run sợ, tiếng nói yếu ớt van lơn : 
          - Lạy các thầy ! Lạy các thầy ! 
          - Không, chúng tôi không bắn đâu .
          Bà lão buông tay đứng dậy nhìn chúng tôi thầm vẻ cám ơn. Chúng tôi hỏi Việt cọng ở đâu trong làng, bà lão nói họ đã rút đi vào sáng sớm. Yện tâm một chút, cái tình người trong mỗi con người chúng tôi bắt đầu trỗi dậy. Không còn giọng sắt máu nữa, chúng tôi hỏi bà lão giọng nhẹ hơn: 
         - Sao bà núp ở đây ?                                                                              
         Bà lão đã xưng "cháu" khi trả lời chúng tôi : 
          - Cháu thấy mấy thầy ngoài ruộng cháu sợ quá...
          Trong thế lưỡng nan khó xử nầy, tôi nghĩ bà lão đã hành động lúng túng kể cũng hợp lý. Tuổi già và trẻ nít không cần phải chạy trốn [phe phái ý thức hệ nào hết. Nhưng khi đối diện với nòng súng trong gang tấc, bà lão chẳng thể phản ứng thích hợp nào hơn. Sợ quá đâm bối rối, bà lão đã xử trí như thế. Mức độ sợ hãi của bà tùy thuộc hoàn toàn vào cử chỉ, nét mặt chúng tôi. Thấy bà lão đã trấn tỉnh lại, tôi hỏi :
          - Nhà bà ở mô ?
          Bà lão chỉ tay vào một căn nhà thấp tè. Căn nhà mái lợp tranh vách trát đất như phủ bằng một màu trắng bạc. Bà cho chúng tôi biết  Việt cọng đã lùa hết dân làng theo họ, chỉ để lại người già, con nít. người con trai và dâu bà cũng có mặt trong đám người đó. Ba đứa ni - bà vừa chỉ tay vừa nói - là cháu nội của "cháu". Mấy "cháu" ở làng "mần" ruộng  khổ cực lắm mấy "thầy"  ạ !... Lời bà lão hết sức đơn sơ giản dị, nhưng phải nghe từ cửa miệng bà thốt ra mới thấy rõ nỗi thống khổ bà đã chịu đựng. Chúng tôi cố nén ép xúc động, bắt đầu chia từng toán lục soát. nắng trưa có phần dịu xuống. Đảo mắt nhìn con đường đất, con xóm nhỏ, tôi có thể phác họa trong trí nếp sinh hoạt hằng ngày ở làng nầy.
          Những dấu chân trâu in sâu ở mé hàng tre. Toán gặt lúa đi qua bỏ rơi rớt đằng sau những chẹn lúa già cỗi nằm lẫn lộn với mấy cọng cỏ khô . Những bãi phân trâu màu sậm đen bốc lên mùi hôi hăng hắc. Cây tre nằm vắt ngang như một cầu vồng trên đầu giữa đường làng... Cảnh trí làng hoàn toàn đầy đủ, chỉ thiếu mất những vai trò hoạt động tạo dựng đời sống. Chúng tôi dù đã mệt mỏi và trí óc căng thẳng sau mấy giờ hành sự, vẫn kéo nhau tiếp tục hành trình. Bà lão dẫn lũ cháu theo sau, năn nỉ chúng tôi vào nhà uống nước. Thật đúng lúc cho chúng tôi nghỉ ngơi, nhưng đành phải từ chối lòng tốt của bà. Từng nhóm nhỏ chúng tôi chia nhau tuần hành, lục soát trên những con xóm. sau đó chúng tôi họp nhau ở đình làng. Tình hình khả quan, không có gì xẩy ra. Chúng tôi báo ngay cho đơn vị bạn phía sau. Trút được gánh nặng, chúng tôi nằm soãi dài nghỉ lưng trên thảm cỏ úa, dưới bóng cây cao. Hình ảnh bà lão và ba đứa cháu trở về khuấy động trí óc...
          Xong công tác, chúng tôi trở về vào buổi chiều trên một lộ trình khác lúc xuất phát. Xuất hành năm giờ chiều, khoảng một giờ sau, chúng tôi men theo con đường đất trắng đục trở về căn cứ. Vùng trời mênh mông dựng lên nỗi buồn trống vắng đè nặng tâm hồn lữ  khách. Mặt trời rơi lõm giữa hai sườn núi vĩ đại, đỏ ngắt như một hòn lửa giết người. Bóng những trái núi trùm lên cả một khoảng rộng dưới chân. Những tia nắng tím thẩm xẹt ngang trên đầu đám cây rừng.
          Một phần dãy Trường Sơn hun hút nằm trong nội địa Quảng Nam.Những trái núi hùng vĩ soãi mình gợn sóng với những triền dốc vi vút hiểm nghèo. Nép vào con đường đất trắng đục, những luống khoai cằn cỗi hằn lên nổi xót xa đói khổ. Những luống khoai lổ chỗ từng vũng sâu do những trái đạn đại bác múc xoáy. Những mảnh đất trắng khô còm cõi như một thân thể bệnh hoạn. Một khóm nhà tranh lưa thưa xiêu đổ nằm sau các luống khoai. Không gian đờ đẫn vắng lặng thật ma quái. Tôi nghe nỗi buồn thấm sâu xương tủy, nỗi buồn mênh mang bao vây chung quanh.
          Nhìn vào khóm nhà lá không thấy một bóng người. Cảnh điêu tàn trải ra hết sức nặng nề. Từng căn nhà đổ nát, sập hẳn một mái, thủng một góc do những trái đạn oan cừu phá nát. Những thân cây trên các sườn nhà phơi giữa mưa nắng lâu ngày trông đã mục rã. Những đám cỏ cao, leo quanh hè, bám luôn vào các vách tường đất. Khoảnh đất làm sân trước một căn nhà đã hóa thành bãi cỏ hoang. Không có dấu vết gì chứng tỏ có bước chân người dẫm đạp lên miếng đất nầy. Một giếng nước sứt mẽ hết cả miệng, càng lúc càng bị lấp vùi theo thời gian, bên cạnh còn in dấu đạn cày xới mặt đất. Tất cả đều mất hết sinh khí. Chúng tôi không hiểu đám dân nguyên ở khóm nhà nầy đã kéo nhau đi lánh nạn chỗ nào ?  Bên nầy hay bên kia ?  Hay đã chịu số phận của một Sơn Chà, Dakto ? Có điều gì đó tỏa ra chung quanh ngột ngạt, uất ức nằm im lìm không dám lên tiếng. .. Tôi tự chửi mình bằng một câu triết lý vụn... Mẹ tổ...chủ nghĩa với chủ thuyết. Hãy dành cho những thằng ăn no rỡn mỡ, uống một ngày tám ly whisky ngồi tán dốc bên mấy con đĩ thời đại. Không giải quyết được một bảo đảm tối thiểu  cho một đời sống vật chất và tinh thần của thằng dân đen. Tôi đố các "ngài" làm nên đại sự. Niềm ước muốn nhỏ nhoi được yên ổn làm ăn kiếm sống, thằng dân đen chờ đợi hoài hủy cũng không được các "ngài" ban cho. Các ngài la hét om sòm chuyện quốc kế dân sinh trên bộ xa lông, bên cạnh những bàn tiệc sang trọng dọn sẵn, trong lúc những quả bom, những tái đạn vẫn tiếp tục ngày ngày rơi xối xả một cách hỗn hào chó má lên đầu thằng dân chúng tôi...
          Đang miên man với những cảm nghĩ lộn xộn rối rắm trong đầu, tôi bỗng ngạc nhiên đứng sững lại. Một bà  già - thêm một bà già trong chuyến công tác lịch sử nầy - đang ngồi bới đất trên đám khoai.  Tôi vẫy tay ra dấu cho đồng bạn biết sự xuất hiện lạ lùng của bà. Chúng tôi quá đủ ngạc nhiên. Thằng bạn người Nam đi gần tôi có thói quen, hễ gặp chuyện gì lạ, hắn mở miệng văng tục ngay. Nhìn bà lão, hắn lắc đầu xệ mặt xuống :
          - Đ.M... Cảm động quá mậy...
          Bà già hình như chẳng cần chú ý đến chung quanh, lúi cúi xới từng cục đất, mò từng củ khoai. Tôi nghĩ đến hình ảnh " Bà Mẹ Gio Linh " của Phạm Duy. Mới hay chiến tranh Việt nam luôn luôn có những Bà Mẹ Gio Linh...

          Rừng chiều nặng nề u ám. Buổi chiều như có những nhịp thở thoi thóp. Mặt trời sắp chôn mình sau núi.  Từng cơn gió rù rì thổi lành lạnh như có mang theo nọc độc. Cảnh tượng buồn bã quá. Tôi bước nhanh về phía bà lão để trông rõ hơn. Cố nhìn quanh quất thật chăm chú, tôi vẫn không thấy một đứa cháu đứa chắt nào lai vãng gần đó. Đơn độc chỉ một mình bà lão ngồi bới khoai. Robinson khi lạc trên hoang đảo, tôi vẫn tưởng tượng nó là người anh hùng có cú đấm ngàn cân. Còn bà lão, trước sau vẫn là thân già sức yếu...
          Tôi vừa đi vừa nghĩ ngợi mung lung không còn tâm trí nào nhìn ngắm những gì chung quanh nữa. Những bước chân mệt mỏi rã rời, hình như tôi nghe tiếng hát...
Trên đường về nhớ đầy.
Chiều chậm đưa chân ngày.
Tiếng buồn vang trong mây.
Tiếng  buồn vang trong mây...  
(Dương Thiệu Tước - Hồ Dzếnh )

*
          Thuận,
          Tao đã viết xong bút ký, viết tặng mầy trước hết. Mầy đọc đi . Tao muốn viết xong ngay từ hơn tháng nay, nhưng có lẽ vì mang quá nhiều ẩn tình và xúc động, tao đã không thể viết đủ năm hàng mỗi lần đặt bút xuống giấy. Mỗi ngày không viết ra là mỗi ngày tao khổ sở như có hàng vạn ẩn ức đè nặng trên đầu... Cứ đi để ngạc nhiên. Cứ ngạc nhiên để tiến bộ. Mầy nói đúng lắm. Nhưng mầy đi không phải như người đi khai phá thế gian. Trái lại, mầy đi tao ngại quá. Mầy biết  tao thương mầy chứ ? Mỗi lần nghe đoàn  thiết giáp Kim Ngưu rầm rộ nghiền nát con đường Lê Trung Đình, tao chạy ra hớp mắt kiếm mầy ngồi trên thùng xe.Tao biết hể xe tank bỏ trại mà chạy là có chuyện. Mầy để xe tank mang ra khỏi thành phố, tao lo quá. Ngày mai, biết còn...
          Nhớ lại cái chiều hôm nham nhở mầy vẫy tay chào tao trong lúc những vòng xích sắt cuốn hút mầy đi, tao không biết tiển mầy bằng cách nào. Gặp lại mầy, tao nửa mừng nửa tủi không muốn nhắc lại cái hôm hồi hộp đó, nhưng mầy vẫn kể tao nghe trận đánh vừa qua. Thì ra, hễ mầy vắng mặt là có  đánh nhau , giết nhau. Hễ mầy không ở trong thành phố là mầy đi hành quân bắn giết. Những lúc đó, mầy đâu có nói gì, phải không ? Mầy im lặng , rình rập và lãy cò.  Cả những lúc ngồi với tao trong quán kem Thanh Thủy, mầy cũng đâu có nói gì , phải không ? Ở đâu  mầy cũng im lặng. À ,thế mà mầy đã nói quá nhiều đó Thuận...  Mầy không nói nhiều sao tao hỏi gì mầy cũng trả lời đôm đốp rõ ràng làm tao tin mầy quá cở. Bằng chứng là cái bút ký nầy. Nếu không có mầy làm sao tao viết được. Bà lão, ba đứa bé và Bà Mẹ Gio Linh làm mầy cảm động muốn khóc. Mầy kể tao nghe qua hai hàng mi rưng rung. Tao viết ra thành lời tao rất cám ơn mầy. Đó, mầy không nói. Nhưng mầy đã nói quá nhiều. Mầy nói cho quê hương nghe, cho anh em bạn bè đồng bào mầy nghe. Tao tin chắc ai cũng muốn nghe mầy kể mầy nói, và sau khi nghe xong, biết mầy đã thật sự có mặt trong đó, ai cũng thương mầy. Mầy không nói mà nói nhiều bằng hành động. Hành động một cách khốn nạn khốn khổ. Mầy sống để tức tửi để không nói thành lời. Chắc mầy hiểu vì sao tao thương mầy rồi.  Tao không cần nhắc lại nữa vì tao chúa ghét giả dối. Nhưng tao phải nhấn mạnh điều nầy, mầy chính là đứa con đích thực của Người Mẹ Việt nam. Cũng như những người không bao giờ  huênh hoang những lời ái quốc ái quần, chỉ biết im lặng xót xa trước thảm trạng quê hương, âm thầm chịu chung số phận hẩm hiu của đất nước, mầy đã làm tao thương mến vô cùng.
          Nhưng thương mầy bao nhiêu , tao muốn tục tĩu vào mặt cái bọn người chuyên làm trò khỉ hôm nay bấy nhiêu. Bọn chúng là ai chắc mầy biết.  Đó la một bọn hề, mở miệng ra thì nói toàn cả mỹ từ, chẳng chó nào thèm nghe. Những cái thùng rỗng đựng xác thối.  Tao muốn khạc nhổ vào đó. Không nói ra, nhưng tao nghĩ mầy đã ẩn giấu quá nhiều sâu kín thắc mắc trong lòng. Mầy chính là người Việt cô đơn như nhiều người thường nói , phải không ?
          Nhưng , không đâu, vì ít nhất mầy vẫn còn một người hiểu mầy.  Đó là tao, bạn mầy. Đúng không , Thuận ? .


Phan Tấn Uẩn
 Trích KHỞI HÀNH (Số 13 - Bộ cũ)


© gio-o.com 2018

ĐÀO TRUNG ĐẠO thi sĩ / thi ca (119)


ĐÀO TRUNG ĐẠO

(119)
Edmond Jabès

 
Chương II
Văn tự Du cư trong không gian Thi ca Sa mạc

  Trong bài thơ Brod und Wein/Bánh mì và Rượu vang ở cuối khổ VII Hölderlin đặt câu hỏi “...und wozu Dichter in dürftiger Zeit?/...và tại sao Thi sĩ trong Thời đại hoang vắng/tàn?” Thời đại là hoang vắng vì thần linh cũ đã bỏ đi và thần linh mới chưa tới. Trong bài Wozu Dichter? Heidegger giải thích “thời đại hoang tàn”: “Thời đại đêm tối của thế giới là thời hoang tàn vì sự hoang tàn liên tục tăng lên lớn hơn. Thời đại đã trở thành thật sự hoang tàn đến mức không còn có thể thấy sự thiếu vắng Thượng đế như một sự thiếu vắng nữa.”[27] Nhưng tại sao Hölderlin lại đặt câu hỏi này với thi sĩ? Phải chăng Hölderlin ngầm chỉ ra văn tự của thi sĩ từ nay chuyển dịch trong không gian hoang vắng của sự khiếm diện, vắng mặt? Theo cách thông diễn của Heidegger thì sự thiếu vắng khiến cho thế giới không còn có nền, chìm ngập trong hố thẳm (Abgrund). Hố thẳm không phải là một khái niệm siêu hình trừu tượng, không đồng nghĩa với hư vô, mà là một thực tại hiện tiền. Vì “Nền là đất cho rễ mọc ra và đứng thẳng.” Heidegger nhận định: Trong thời đại hoang tàn này khi “nền”còn chơi vơi trên hố thẳm thì để có một sự xoay chiều ra khỏi hố thẳm của thế giới con người phải kinh qua kinh nghiệm về hố thẳm. Như chúng ta biết gốc rễ của từ lưu đầy (exile/ra khỏi) là từ cổ salire có nghĩa “nhảy”. Lưu đầy như vậy có nghĩa nhảy ra khỏi cái nền xứ sở đang ở trong hố thẳm. Có thể nói thi sĩ vô xứ là kẻ cảm nhận sâu sắc hơn hết về thảm họa hố thẳm này. Vì là kẻ vô xứ chân hắn không có “nền” để đặt chân, hắn chỉ còn cách sống du cư lang thang trên sa mạc hay không có sở cứ, ở khắp nơi và không nơi nào (Partout et nulle part). Một không gian trống vắng/rỗng của sa mạc, của trang giấy trắng trong đó viết chuyển động hoài hủy với ngôn ngữ bị đoạn rời bởi sự hoang/vắng mặt. Từ và ý nghĩa của từ trên trang viết nếu không là tự xóa bỏ cũng tự ly tâm lang bạt. Hay nói như Mallarmé ngôn ngữ thi ca đã trở thành “trung tâm của sự ngưng lại, đình chỉ rung chấn”, thi từ giương buồm băng ngang hai trang giấy của quyển sách mở rộng. Nói cách khác những từ trong một bài thơ di động,    lang thang hoặc tụ lại để tạo những hình thể mới hay những tương quan mới. Bài thơ vì thế là một mảnh đất bất ổn với những dấu vết/vạch, của những “từ lang thang” như những đụn cát trên sa mạc (theo Celan) của văn tự du cư. Jabès viết: “Văn tự du cư, thứ văn tự không của một nơi chốn, nhưng của mọi nơi chốn mà chữ, tiếp nối với chữ hồi sinh và cạn kiệt, giờ đây, ở trong sa mạc của khát. Mỗi hạt cát cất tiếng cho trải rộng quạnh hiu trở thành không gian tự nhiên của nó và, tuy thế, chết cô đơn cái chết tiếp diễn của nó mà mặt trời thiêu đốt.”[28]

Văn tự du cư: Ở trung tâm tác phẩm của Edmond Jabès ngôn ngữ lang bạt/thang, văn tự du cư (écriture nomade) gắn liền với thân phận lưu đầy, vô xứ của thi sĩ. Với Jabès sống vô xứ có nghĩa viết vô xứ: sống và viết cùng nằm trong một chuyển vận: Viết, văn tự nhằm xóa bỏ khoảng cách. Jabès cũng cho rằng văn tự du cư là quyển sách của kẻ du cư.[29] Ý tưởng này xuất phát từ sự qui chiếu thân phận thi sĩ, nhà văn với thân phận người Do thái. Trong bài phỏng vấn với Paul Auster đã nói đến ở phần trên Jabès tâm sự: tuy hiện nay sống ở Pháp, sử dụng tiếng Pháp nhưng “[...] hiện nay tôi sống sót cái thân phận lịch sử Do thái, bởi mọi nhà văn, mọi kẻ sáng tạo, đều sống trong một thứ lưu đầy.”[30] Jabès sử dụng tiếng Pháp nhưng “Nói ngôn ngữ của người khác, nhưng theo thể tra vấn.”[31] Cái thân phận hai lần lưu đầy này được Jabès trong Le Retour au Livre cho rằng cả thân phận vô xứ của thi sĩ lẫn số phận lưu đầy của người Do thái đều bị “hình phạt” bởi một “từ cổ xưa” có nguồn gốc từ biến cố thảm họa của sự mất mát và chia lìa: việc phá vỡ những bản ghi chép sấm truyền những luật tắc khởi đầu cuộc lưu đầy của người Do thái khỏi ngôn ngữ thiêng liêng. Đó cũng là ẩn dụ về sự chia lìa vĩnh viễn với quyền lực biểu đạt thuần túy và toàn thể của văn chương hôm nay.
Vì viết cũng là mở ra để cuộc sống trở thành bản viết (Le Soupçon Le Desert, 81), cuộc sống lang thang ấy được ký tự vào quyển sách không bao giờ kết thúc gồm những trang sách di động và những từ phù du/ảo. Bản viết cũng như thi sĩ thường trực hiện hữu trong khoảng trống vắng và bị bật rễ. Theo Jabès giữa thế giới và bản văn không có khoảng cách vì thế giới là bản văn, cả hai đều không ổn định/cố, đều chia sẻ sự chia lìa, tuyệt vọng và mất mát. Thêm nữa cả hai đều đặt trên sự bất định, trôi dạt của ý nghĩa. Viết đưa vũ trụ, thế giới vào hiện hữu. Trong Le Soupçon Le Désert Jabès viết: “Chúng ta chỉ hiện hữu trong và bởi cái tên; việc đặt tên cho hữu sự hiện hữu và đối tượng (objet) được đặt tên...Người ta nhận ra rằng không có gì hiện hữu bên ngoài quyển sách, rằng vũ trụ là trong quyển sách; điều này có nghĩa, nó hiện hữu, chính nó là, quyển sách từ đó nó trở thành vũ trụ qua mỗi trang của quyển sách.”
______________________________________
[27] Martin Heidegger, Why Poet? trong Off the Beaten Track trang 200: The time of the world’s night is the desolate time because the desolation grows continually greater. The time has already become so desolate that it is no longer able to see the default of God as a default.
[28] Edmond Jabès, Le Livre des Ressemblances trang 121: Écriture nomade, celle qui n’est pas d’un lieu, mais de tous les lieux que la lettre, rejoignant la lettre ressuscite et qui s’épuise, maintenant, dans le désert de la soif. Chaque grain de sable parle pour cette étendue désolée devenue son espace naturel et, cependant, meurt solitaire de sa mort continue que le soleil embrase.
[29] Edmond Jabès, Le Livre des Ressemblances trang 204: Écriture nomade. Livre du nomade.
[30] Sđd trang 12: In a sense, I am now living out the historical Jewish condition. Writing and Jew share a similar fate, since “every writer in some way experiences the Jewish condition, because every writer, every creator, lives in a kind of exile.
[31] Edmond Jabès, Le Livre des Ressemblances trang 193: Parler le language de l’autre, mais sur le mode interrogatif.
(còn tiếp)
ĐÀO TRUNG ĐẠO