Wednesday, December 5, 2018

ĐÀO TRUNG ĐẠO thi sĩ / thi ca (124)


ĐÀO TRUNG ĐẠO
(124)
Edmond Jabès
Chương 3
Quyển Sách
Ở bìa 4 của LQ1 Jabès cho in tóm lược đính kèm (prière d’inserer): “Quyển sách Câu hỏi là quyển sách của ký ức, của lưu đầy và của lắng nghe; là chuỗi những tác phẩm mà ba quyển đầu, nay được in gộp lại, tạo thành cái lõi trung tâm. Quanh một truyện tình đơn giản và bi thảm của Sarah và của Yukel, quanh những tra hỏi ám ảnh về đời sống, về Thượng đế, vể Do thái giáo, về tự do, về chọn lựa, về Bản văn, về cái chết, làm nên tiếng vang đáp lại những câu hỏi và những suy tưởng của những bậc hiền giả tưởng tượng, những nhà diễn giải đặc biệt của quyển sách.”[48]  Theo Jabès LQ1 tuy là bài tình ca và bài ca tang chế nhưng vẫn là bài ca hy vọng cất lên từ mỗi trang sách. Bài ca này có tham vọng làm cho chúng ta chứng kiến sự ra đời và những khoảnh khắc cuối cùng của một lời nói (parole) đã bị kết án từ trước và trong một chiều kích nó thực hơn thực, nó chứng kiến sự tăng trưởng cái ngưỡng của sự khổ đau, nỗi khổ đau này minh họa tính chất tập thể bị hành hình với lời than khóc được nhắc đến mãi mãi bởi những nạn nhân.


Những bước chân của Yukel dẫn tới cái chết, như bước trên cái chết của chính mình và của giống nói, bước trên ý nghĩa cũng như sự vô nghĩa của mọi cái chết. Jabès nhận rằng chính mình là kẻ buộc Yukel bước đi, là kẻ reo rắc những bước đi của Yukel trong quyển sách. Nhưng cũng chính Jabès là người nghĩ tưởng đến Yukel, chấp lời Yukel, tìm kiếm và đếm bước “vì ta là văn tự, ngươi là vết thương. Yukel, ta có phản bội ngươi không? Và chắc chắn là ta đã phản bội ngươi. Ta đã chỉ giữ lại, giữa trời và đất, vết cắt xuyên thấu ngây thơ nỗi khổ đau của ngươi. Ngươi là một trong những nhánh nụ của tiếng kêu tập thể mặt trời nhuộm vàng. Ta đặt tên ngươi và tên của Sarah vào trong tiếng kêu không chịu im bặt này, cho tiếng kêu  hòa nhập vào hơi thở của cô ta và tiếng kêu đó xưa cũ hơn tất cả chúng ta, cho tiếng kêu của mãi mãi, xưa cũ hơn cả hạt mầm.”[49]  Jabès ngỏ lời xin lỗi Yukel vì đã chấp lời, vì Yukel là tiếng nói lịm tắt giữa những dối trá của giai thoại. Jabès tự hỏi: làm sao Yukel có thể thốt lời vì Yukel chỉ mở miệng để tiếp tục kêu gào, làm sao Yukel có sự ham muốn và kiên nhẫn để giải thích con đường đi của mình.?

Sau Et tu seras dans le livre Le livre de l’absent/Quyển sách của người vắng mặt gồm ba phần: Phần thứ nhất mở đầu bằng lời của giáo sĩ Reb Tal: “Tất cả mọi chữ tạo hình sự vắng mặt. Cũng vậy Thượng đế là con cái của Danh xưng của Ngài ”[50]  sau đó Jabès viết 13 tản mạn ngắn có liên quan tới Quyển Sách, văn tự, nhà văn...Đoạn thứ nhất [1] là lời tự sự của chính Jabès kẻ sống lưu đầy lang thang chạm mặt nghe ngóng những kẻ xa lạ trên đường phố. Nhưng để quên đi tiếng nói của những kẻ xa lạ này hắn bước đi mải miết không nghĩ tới trở về nhà, vì để “về nhà” phải có ký ức về thời gian và không gian. Giờ đây hắn bước đi buông bỏ, không chủ động, trong tim và dưới chân có rất nhiều chiếc lá đã chết. Kẻ vô xứ sống đong đưa chao đảo không phải vì sự mỏi mệt hiện tại nhưng vì một sự mỏi mệt thiên niên kỷ đè nặng như muốn chôn vùi hắn. Hắn đã đi qua rất nhiều con đường nhưng tất cả những con đường này vẫn chỉ là một con đường. Tuy hắn tự hỏi: làm sao giải thích sự việc này nhưng hắn đã chẳng bao giờ biết giải thich ra sao và bỗng nhận ra giờ đây mọi sự đã quá muộn màng. Thay vào đó hắn mơ về những cái cối xay chạy bằng nước ở Phi châu, về lời ủy lạo kẻ chiến bại của một giáo sĩ tù nhân, về tro cốt của những giáo sĩ ở một vùng đất Ả rập nào đó và những lời nói của một giáo sĩ trong một thành phố. Với hắn giờ đây điều có thực chẳng phải là những phố phường hắn đã đi qua mà là: hắn còn sống. Hắn bị ám ảnh bởi một khuôn mặt với mái tóc bạch kim cắt ngắn [Sarah] và một tiếng kêu [Yukel] trên đường phố nhưng “Nơi đây là nơi khác, nơi khác cột chặt vào cẳng, đó không phải là một xứ sở cũng không phải là một lục địa mà tiếng kêu lên án, nhưng là thế giới; đó không phải là một người nhưng là tất cả mọi người.”[51] Thay lời Yukel hắn quyết tâm trả thù cho Sarah vì Sarah là chân lý phán xét. Lang thang hắn bỗng nhìn thấy hàng chữ viết bằng phấn trắng trên một bức tường được đèn pha một chiếc xe hơi chạy qua vô tình rọi sáng “MORT AUX JUIFS/JEWS GO HOME/GIẾT HẾT BỌN DO THÁI. LŨ DO THÁI HÃY XÉO VẾ NƯỚC” nhưng rồi hắn không nhớ rõ đã nhìn thấy những khẩu hiệu này ở khu phố nào? Hay trên những bức tường tại rất nhiều đường phố hắn đã đọc đi đọc lại mỗi khi dừng bước. 

Đoạn thứ nhì [2] nhắc đến Yukel như nhân chứng thầm lặng cùng những suy tưởng về viết với lời mở đầu: “Tuổi thơ là một vùng đất được nước thấm đẫm trên đó những con thuyền giấy nhỏ bé trôi nổi. Rồi thì những con thuyền biến thành những con bọ cạp; lập tức, cuộc sống bị giết chết từ từ bởi nọc độc. Nọc độc ở trong mỗi tràng hoa, giống như trái đất ở trong mặt trời. Ban đêm, trái đất tự dâng mình, nhưng con người ngủ yên một cách hạnh phúc. Trong giấc ngủ họ không thể bị tấn công. Nọc độc là giấc mơ.”[52]  Yukel kẻ thầm lặng thường được triệu thỉnh trong quyển sách hắn viết – viết cho bàn tay hắn, cho cây bút của hắn, để làm cho cái nhìn nhẹ nhõm bởi nếu hắn không viết thì bàn tay, cây bút, cái nhìn sẽ ra sao? Bút thành vô dụng, rỉ sét, bàn tay sẽ vắng bóng không thấy trong từ nào, chữ nào, cái nhìn sẽ đắm chìm trong trang giấy: “Chỉ có văn tự giữ cho cái nhìn của nhà văn lộ rõ.” (Seule l’écriture maintient le regard de l’écrivain à la surface.) Hắn tra hỏi nhưng không có thì giờ trả lời bởi có quá nhiều câu hỏi chạy tuột khỏi tiếng nói của hắn, chúng tìm kiếm suốt dọc cánh tay hắn để tới lòng bàn tay, cũng như rất nhiều sự ham muốn thắt chặt cây viết của hắn khiến những ngón tay hắn xiết chặt cây viết nên hắn không biết đi theo con đường nào. Hắn hiểu rằng luôn luôn phải tìm cho ra con đường. Một tờ giấy trắng chứa đầy những con đường, có thể đi theo hướng phải hay trái và đôi khi cũng biết trước khi trang giấy đen đặc những dấu chỉ ta sẽ xé bỏ. Tìm đường cả trăm ngàn lần từ mũi, từ ngực, từ miệng, con đường của vầng trán và của linh hồn. “Và tất cả những con đường này chúng có ngả riêng của chúng. – Bằng không, chúng sẽ không phải là những con đường”[53] Thế nên tìm được đúng con đường hẳn đó phải là một ân huệ. Hắn hồi ức kỷ niệm môt buổi trưa nọ lái xe lòng vòng quanh quẩn nhiều hướng trong sa mạc và cuối cùng thấy mình đối diện với vô tận, với hư vô, với trang giấy trắng.

Đoạn [3] bắt đầu về sứ mệnh nhà văn: “Tôi tin tưởng vào sứ mệnh của nhà văn.Nhà văn nhận sứ mệnh từ động từ mang vác sự khổ đau và niềm hy vọng của hắn nơi sứ mệnh. Hắn tra hỏi những từ chúng cật vấn hắn, hắn đồng hành với những từ đồnh hành với hắn. Sự khởi đầu là của chung và như thể xảy đến bỗng nhiên. Trở thành hữu dụng với những từ –  trong việc sử dụng chúng – hắn cho đời sống của hắn và những từ một ý nghĩa sâu xa mà chính đời sống của hắn phát khởi từ đó.”[54]  Yukel vắng mặt vì hắn là người tự sự và chỉ có câu chuyện là có thực. Yukel cũng là kẻ hủy bỏ những biên giới giữa đời sống và cái chết. Jabès viết những đối thoại tưởng tượng với Yukel về cái giếng Yukel đào trên đất Do thái – cái mảnh đất mà dân Do thái chẳng bao giờ cư ngụ – về nước của giếng này không nơi đâu sánh bằng nhưng đã bị bỏ quên trong lòng bàn tay suốt năm mươi thế kỷ. Và lời khuyên của giáo sĩ Reb Segré “Hãy mở rộng bàn tay để vùi mặt trong đó, mặt sẽ biến đi như cây chạm nước.” Còn Reb Hakim đưa ra luận về những ngón tay của bàn tay: ngón trỏ để nhận ra sao trời, ngón giữa là giấc mơ...Và ngón trỏ được vị giáo sĩ này ưa thích nhất vì nó luôn sẵn sàng để quệt khô nước mắt. Jabès tự hỏi phải chăng những quyển sách mình viết ra đã bồi thêm sự thất vọng giữa mình và các người anh em đồng chủng, biến hy vọng thành thất vọng vì tuy những câu mở đầu sách chứa chan hy vọng nhưng sự nghi hoặc đã lén lút xen vào và dần dần nở rộ.
_________________________________  
[48] Le Livre des Questions est le livre de la mémoire, de l’exil et de l’écoute; long cycle d’ouvrages dont les trois premiers, aujourd’hui réunis, constituent le noyau central. Autour d’une idylle simple et tragique, celle de Sarah et de Yukel, d’obsédantes interrogations, sur la vie, Dieu, le judaïsme, la liberté, le choix, le Texte, la mort, font echo à des questions et méditations de sages imaginaires, interprètes priviligiés du livre.
[49] LQ1 trang 38-39: [...] car je suis écriture/et toi blessure./T’ai-je trahi, Yukel?/ Je t’ai sûrement trahi./ Je n’ai retenu, entre ciel et terre, que la percée puérile de ta douleur./ Tu es l’un des épis du cri collectif que le soleil dore./J’ai donné ton nom et celui de Sarah à ce cri qui s’obstine/ à ce cri qui a épousé son souffre et qui est plus ancien que nous tous,/à ce cri de toujours,/plus ancien que la grain.
[50] LQ1 trang 51: Toutes les lettres forment l’absence. Ainsi Dieu est l’enfant de Son Nom./Reb Tal.
[51] LQ1 trang 55: Ici qui est ailleurs, ailleurs enchainés à nos chevilles, ce n’est pas un pays que le cri met en cause ni un continent, mais le monde; ce n’est pas un homme, mais tous.
[52] L’Enfance est une terre baignée d’eau sur laquelle flottent de petits bateaux en papier. Il arrive que les bateaux se transforment en scorpions; alors, la vie meurt par le poison à chaque instant.
   Le poison est dans chaque corolle, comme la terre est dans le soleil. La nuit, la terre est livrée à elle-même, mais les hommes dorment heureusement. Dans le sommeil, ils sont invulnérables.
   Le poison est le rêve.
[53] LQ1 trang 59: Et tous ces chemins ont leurs chemins propres. – Autrement, ils ne seraient pas des chemins.
[54] LQ1 trang 64: Je crois à la mission de l’écrivain. Il la reçoit du verbe qui porte en lui sa souffrance et son espoir. Il interroge les mots qui l’interrogent, il accompagne les mots qui l’accompagnent. L’initiative est commune et comme spontanée. De les servir – de s’en servir – , il donne un sens profond à sa vie et à leur dont elle est issue.
(còn tiếp)
ĐÀO TRUNG ĐẠO

Tuesday, December 4, 2018

Hẽm nhỏ - đời thường Jofulkuji - thành phố Kyoto - Nhật Bản tháng 11-2018

Đây là một trong những con hẽm mà suốt thời gian ở Kyoto, tôi đi mải miết mà không bao giờ chán ... Tôi đi như bi mê hoặc .. Tôi mê dạo bộ hay đạp xe lang thang qua những con hẽm chằng chịt ở Kyoto. Sự yên tĩnh, mùi an ninh, hương thái bình của những con hẽm vắng này làm cho tôi mê ... đi hoài đi mãi ... đôi chân và tâm hồn như muốn lang thang mãi qua trái tim thành phố tuyệt vời này ... (Lê Thị Huệ)


bút ký Phan Tấn Uẩn



 
Đường Phan Đình Phùng Đàlạt những năm 1960,
nơi chúng tôi thường
lên vui chơi vào các dịp hè 1962, 1963
ĐÀ LẠT VÀ CUỘC TẢN CƯ VỀ HUẾ

            Từ một vùng đất hoang vu của dân tộc thiểu số thuộc bộ tộc K'Ho hiện nay, sau khám phá của bác sĩ Yersin (tháng 6 năm 1893), người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên thành phố Đàlạt. Đàlạt trở thành một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương trong nửa đầu thế kỷ 20.

            Ngày … tháng … năm 194…,tiếng khóc chào đời của tôi cất lên giữa thành phố cao nguyên lúc ba tôi đang là Chánh văn phòng Tòa Công Sứ Pháp (Tòa Thị Chính). Tản cư ra Huế tháng 8 /1945, lúc đó tôi là đứa bé chỉ biết khóc nhè, làm rộn người khác. Những năm 1962, 63 , vào mấy tháng hè tôi từ SaiGon lên Đàlạt ở  với mẹ và em gái tại nhà Bác Hai đường Phan Đình Phùng , nhưng chẳng nhớ được gì về Đàlạt thuở thiếu thời. Phải đến tháng 10 năm 2014 về Việt Nam giỗ ba tôi, mới có dịp gặp mặt đông đủ các thế hệ già trẻ . Buổi họp mặt đã cho tôi hình dung cuộc sống của gia đình tại Đàlạt và cuộc tản cư về Huế năm 1945…

            " Nhà cũ chúng tôi nằm trên khu đất cao phía Đông gần ngôi chợ trung tâm,đến đường phố chính ở phía dưới qua một vườn hoa ngoài sân, và  một lối đi lát gạch dẫn đến những bậc thềm bước xuống đường. Con đường phía sau nhà dành cho sinh hoạt gia đình với xe cộ vô ra thường xuyên. Đứng giữa sân nhà có thể nhìn thấy Hồ Xuân Hương , xa xa là ga xe lửa. Đôi khi từ trại tù nghe tiếng kèn báo hiệu trên một đồi cao.Đến khu chợ Đàlạt bên trái phải bước xuống nhiều dãy bậc cấp. Theo lời mẹ kể, thời gian gia đình chúng tôi sinh sống ở Đàlạt là thời hạnh phúc vàng son nhất trong đời mẹ. Tiền bạc dư dả, tôi tớ đầy đủ, chợ búa đông vui giá rẻ, chuyện ăn uống không làm mẹ bận tâm. Thường mỗi lần đi làm về, chưa kịp cởi áo khoát,ba tôi bế một thằng nhóc lên rồi dúi cái cằm có râu ngắn vào ngực làm cho nó cười hắc lên. Đơn giản hình bóng ba chỉ có thế. Những  ngày cuối tuần, thỉnh thoảng ông tổ chức các buổi hòa nhạc với dàn kèn trống, đàn tranh , đàn nhị, đàn bầu..., vì chính ba tôi cũng chơi các loại đàn nầy khá thuần thục do thuê thầy dạy đàn từ trước. Bên cạnh các cuộc vui đàn hát, còn có những ván bài - gọi là "tài bàn" - giữa những bạn thân của ba , trong đó tôi chỉ nhớ được tên tuổi nhà văn hóa Trần Thanh Mại. Năm 1999, bà Trần Thị Linh Chi, con gái bác Trần Thanh Mại từ Cần Thơ lên SaiGon dự đám giỗ ba tôi tại nhà chị tôi , tôi có dịp nhìn thấy tận mắt hình bóng cũ tình bạn của ba với bác  Mại. Bà Linh Chi cũng là một nhà văn dám thu hẹp một cơ sở làm ăn lớn để dành thì giờ lo chuyện viết lách. Lúc đó tôi có đọc mấy bài của Trần thị Linh Chi trên tập san Nhớ Huế

            Trở lại sinh hoạt thường ngày của gia đình ba mẹ ở Đalạt. Buổi sáng thường có người đàn ông Ấn độ, mang sữa dê bồi dưỡng cho anh tôi, là đứa trẻ gầy còm vì bệnh . Anh nầy khi lớn lên khỏe mạnh, phải mắc tật nói cà-lăm do hậu quả bệnh từ nhỏ... 

            Đáng nói hơn,cả một đại gia đình gồm ông bà chú bác anh em con cháu nội ngoại của nhánh họ Phan làng Đốc Sơ thường quây quần bên những bàn ăn rất lớn đặt giữa sân nhà, thoải mái tràn đầy niềm vui tiếng cười, trong đó nổi bật lên vai trò của ba tôi và Bác Khải. Một chi tiết do anh Phan Tấn Trình kể cho đàn em sau nầy thấy được cuộc sống của gia đình bác Cự và gia đình ba mẹ tôi . Anh Trình nhớ lại lúc thiếu thời ở Đàlạt, ham chơi tối về nhà muốn ngủ, anh ngủ luôn bên mẹ tôi như con của mẹ. Sáu chục năm sau, tình cảm nối kết nầy không còn nữa .Lúc đám tang mẹ tôi,cánh Đàlạt chỉ một mình anh Trình về SaiGon tiển biệt…

                  Năm 1962 , 16 năm sau ngày tản cư, anh tôi mới có dịp trở lại Đàlạt , và tìm đến ngôi nhà cũ của ba mẹ. Loáng thoáng nhớ về cảnh cũ so với hiện trạng, thấy Đàlạt đã thay đổi khá nhiều. Những cao ốc mọc lên sau nầy lấn át hẳn ngôi nhà cũ khiến nó trở nên nhỏ bé. Rạp chiếu bóng vẫn còn đó , có thể được tu sửa nhiều lần , hài hòa giữa những cao ốc bên cạnh. Mười sáu năm trước, rạp thường chiếu những phim chiến tranh, cao bồi, có cảnh xe tank , máy bay bốc cháy, và những con ngựa nhảy chồm lên lao vào khán giả. Ngày ấy vẫn có thú vui thả diều trên đồi cỏ, xe hoa diểu hành qua đường phố, và những khúc ca hùng tráng. Thỉnh thoảng còi báo động vang lên inh ỏi vào giữa trưa khi máy bay Đồng Minh thả bom giãi cứu tù binh Anh, Mỹ bị quân Nhật bắt giam tại đây. Đã có lần gia đình chúng tôi phải vào trú ẩn trong hào tránh bom đã được đào sẳn quanh dưới chân một ngọn đồi...

                  Biến cố tháng tám bùng nổ, ba tôi phải bàn giao công việc từ Tòa Công Sứ Pháp cho  chính quyền người Việt... Sau đó không lâu, có tin quân Pháp trở lại Việt Nam. SaiGon đã có súng nổ . Đàlạt cũng sôi sục chuẩn bị chiến đấu, dân chúng trong thành phố phải ra vùng ven lánh nạn.Trên chiếc xe tải mui trần, gia đình chúng tôi ra đi mang theo vật dụng, thực phẩm , bỏ lại căn nhà sau khi khóa hết các cửa. Xe chạy về hướng Đông Nam xuống vùng đồi Trại Hầm. Chỗ ở nằm trong khu đồn điền người Pháp vắng chủ. Ngôi biệt thự màu nâu, rộng rãi, đã có nhiều người lánh nạn vào ở trước khi chúng tôi đến. Sống tạm nơi đây một thời gian ,nhưng bọn nhỏ chúng tôi vẫn còn được vô tư lên đồi thông bẻ chồi non, hái trái cà phê chín màu mận đỏ. Hàng ngày mẹ và người giúp việc vẫn thường trở lại ngôi nhà cũ trên Đàlạt mua thêm thức ăn, lấy lại một vài vật dụng cần thiết. Những chiều mờ tối từng toán trai trẻ mang súng trường, gươm đao, có cả cung tên , chậm rãi đi trên các vùng đồi.Anh tôi kể lại một lần giữa đêm tối cảnh giác, lính Pháp đang lùng sục truy tìm du kích, bỗng tiếng khóc thét vang lên của tôi làm cho người bạn của ba tôi phải ra tay trấn áp. Ông gọi tôi dậy, cầm một thanh gươm cán dài, rút lưỡi gươm sáng lóe dọa cho chú bé câm tiếng...

            Tình hình diển biến nhanh chóng. Một hôm, ba tôi từ đâu về nhà giữa đêm khuya. Buổi sáng trời nắng ấm, ông phát động một cuộc di tản . Ba tôi cõng bé gái út, tôi làm biếng lì lợm không chịu đi,anh trai lớn phải cõng tôi . Mẹ ,chị tôi và anh trai thứ hai còn nhỏ , mang vác đủ thứ vật dụng áo quần, thức ăn, bình đựng nước... Cả đoàn è ạch đi với đôi chân nặng nhọc. Phải đi trong bao lâu mới hết đoạn đường khổ nhọc nầy, không thể nhớ rỏ. Suốt con đường dài vắng hẳn bóng người, xe thì chạy ngược chiều với chúng tôi. Hai bên đường toàn cả bụi rậm, phía xa trước mắt là núi phủ mây mù. Đi mãi...đến lúc mặt trời khuất dần sau những ngọn núi. Đoàn người lầm lủi đi giữa đêm đen. Mệt quá không bước nổi, phải ngồi bệt bên đường nghỉ từng chặn ngắn. Đến hồi phía Đông lóe lên nguồn sáng đèn điện mờ vàng, cả đoàn chỉ tay về phía đó, reo mừng hò hét quên cả mệt nhọc. Thị trấn Tháp Chàm , Phan Rang đây rồi... Phan Rang là nơi Ba Mẹ tôi thường hay về tắm biển ... 

            Đêm trung tâm thị xã Phan Rang sáng dưới ánh đèn và ánh trăng. Chúng tôi bước vào một ngôi đền , không rỏ là đình hay chùa, vì nhận ra các tượng thần uy nghi bên trong. Ngoài sân bắt gặp những người đàn ông quần cụt ở trần không mảnh áo che thân, nằm ngủ say trên những chiếc chiếu trải xiêng theo từng hàng đều nhau. Bầu không khí ngột ngạt , chúng tôi tìm được chỗ nghỉ tạm bên ngoài ngôi đền là mái hiên nhà ga xe lửa. Sáng hôm sau,chúng tôi dậy sớm, quang cảnh nhà ga hiện ra rất lạ mắt,nhiều đường ray song song trãi dài ra tận chân núi. Một chiếc xe gòn nhỏ,trên xe hai người đàn ông ngồi sụp xuống với một lá cờ đỏ....Chúng tôi ở đây chờ tàu ra Huế...

            Chuyến tàu xuất phát vào buổi sáng sớm. Nhìn ra thấy một vùng nước xanh mênh mông với nhiều tàu buồm. Qua khỏi một khúc quanh, xuất hiện chiếc xà-lup , như lời ba nói, là chiếc tàu lớn với ống khói cao to ,vươn lên giữa biển trời.. Hành trình ra Huế phải luân chuyển qua vài con tàu khác nhau và trải qua nhiều ngày, vì có nhiều cây cầu trên lộ trình bị bom máy bay đánh sập. Một buổi chiều, con tàu chui vào đường hầm , những đốm lửa than sáng đỏ bay vượt qua cửa . Khỏi đường hầm nầy, một lúc sau không nhớ rỏ bao lâu, tàu lại chun vào một đường hầm khác dài hơn phủ đầy bóng tối,sau nầy mới biết đó là hầm đèo Hải Vân. Ra khỏi đường hầm nầy, hành trình đến Huế sắp kết thúc. Đến ga Huế, anh em chúng tôi thay quần áo mới trước khi về nhà nội. Hai đứa bé, mặc đồng phục trắng của hướng đạo sinh, đội mũ nồi đỏ , về đến làng quê nổi lên như một hiện tượng mới lạ trước mắt mọi người. Ghé nhà nội thăm viếng, gặp gỡ bà con đâu một hai ngày, gia đình chúng tôi chuyển ra sinh sống ở làng ngoại trong căn nhà của ba mẹ ngày cũ..."

Phan Tấn Uẩn

(Trích Hồi Ký BIẾT ĐÂU NGUỒN CỘI)