Sunday, December 31, 2017

Trần Diệu Hằng đọc thơ Lê Thị Huệ


Hắc cơ dẫn tôi về một phai tiếng. Nghe lại Trần Diệu Hằng đọc bài thơ Chia Tay Tháng Tư của mình, (đọc năm 1994) Lâu lắm rồi không nghe tin bạn! Không biết giờ bạn hạnh phúc hay khổ đau đến bến bờ nào trên con đường phiêu lưu mải miết đi tìm một chỗ trú êm chân. Nhớ Bạn. (lth)

Đào Trung Đạo - Kỳ 86



đào trung đạo
thi sĩ / thi ca
(86)
RENÉ CHAR
Một vài vấn đề văn chương quanh René Char
4. Di sản thi ca của Char

Dominique Fourcade là người không những nhiệt thành ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng thi ca  René Char mà còn có một vị thế khá đặc biệt đối với thi sĩ: đặc biệt ở chỗ có công quảng bá René Char  qua việc đứng chủ biên tuyển tập Cahiers de l”Herne: René Char (1971). Hơn thế Dominique Fourcade cũng còn được coi như “người thừa hưởng” di sản của sư phụ. Từ khi mới 20 tuổi (1958) và suốt trong 15 năm sau đó Dominique Fourcade duy trì một tình bạn vong niên rất thân thiết với René Char. Nhưng kể từ sau khi Char từ trần  Fourcade dần dần tách rời khỏi ảnh hưởng của sư phụ. Bài Khảo luận Nhập/Essai d’Introduction cho Cahiers de l”Herne: René Char của Dominique Fourcade có giá trị lịch sử vì đã trình bày khá chi tiết lộ trình diễn tiến thi ca của Rene Char. Mở đầu bài viết Dominique Fourcade bênh vực tập thơ đầu tay Les Cloches sur le Cœur – dù chính Char đã hủy bỏ tập thơ này và quyết định không cho vào Œuvres complètes do nhà xuất bản Gallimard (Bibliothèque de la Pléiade) xuất bản năm 1983 – coi đó như một sự chuyển tiếp từ những năm đầu chập chững làm thơ (những bài thơ trong tập này được viết trong khoảng thời gian 1922-1926) sang thời trưởng thành. Dominique Fourcade trình bày và phân tích tác phẩm của Char ở điểm nhìn Char như thi sĩ đang trổi lên: “Có thể gọi ông ta là người đang lên trong thi ca không? Những thi sĩ luôn luôn cùng tộc hệ, có cùng nòi (filiation) , và trong nghĩa này Char là con trai của Rimbaud.”[314]  Dominique Fourcade trình bày diễn trình thi ca của Char, những giai đoạn chính, những chủ đề trong những mối tương quan  giữa văn tự của Char với “thực tại” và với “cái chết”. Năm 2007 trong bài “Char” trên Catalogue Char (do Antoine Coron chủ biên) Dominique Forcade viết 5 trang ngợi ca vai trò quyết định của Char đối với thế hệ thi sĩ trẻ đang khao khát sự tuyệt đối trong nỗi xao xuyến chen lẫn hy vọng và tuyệt vọng rồi bất ngờ được đọc tập thơ Fureur et Mystère của Char, trong cô  đơn và tổn thương của thế hệ mình đã tìm thấy sức sống ở văn tự của Char: “Khi mở tập thơ này ra, nếu như không ở trong khả năng làm thơ của tôi, nhưng chắc chắn một điều là tập thơ nằm trong tầm tay của tôi để đọc nó và như thế để sống nó.”[315]  Trong suốt bài luận văn dẫn nhập cho l”Herne: René Char Dominique Fourcade chỉ ra một cách chi tiết chuyển vận của những thời kỳ thi ca của Char: giai đoạn Le Marteau sans Maître gồm các tập Arsenal (1927-1929), Artine (1930), L’Action de la Justice est éteinte (1931), Poèmes militants (1932) và Abondance viendra (1932) với đặc điểm tiếng thơ của Char giống như cái miệng gào thét luôn luôn muốn nhanh hơn cái tay viết: “Song le, lời thì thầm của bàn tay trong thi ca luôn thắng thế...Trong thi ca, chính là bàn tay, chứ không phải cái miệng, vượt qua bức tường của ý nghĩa-âm thanh một cách đích thực.” Không những vượt qua bức tường ý nghĩa-âm thanh mà Char còn làm được một bước đi mới tiến về phía trước trong thi ca, đi vào cõi của “không biết”(inconnu) theo Dominique Fourcade: “Thế nhưng thế giới của Le Marteau sans Maître là một thế giới được nhìn từ trên xuống dưới, và không ngược lại. Một thế giới được khám phá chứ không là một thế giới được quan sát. Dường như chính mắt chúng ta nhìn thấy thi sĩ ném mình vào đó và viết. Chỉ có cảm hứng phá vỡ gọng kẹp thời gian,”[317]  Kiểm điểm thành quả mối liên hệ của Char với Phong trào Siêu thực Dominique Fourcade cho rằng quan trọng hơn cả là sự hình thành quan niệm về cái siêu thực (le surréel) được Char lập lại nhiều lần trong các bài viết: siêu thực không phải là một thế giới không có thực tại (la réalité), một vũ trụ của tính chất vô bằng (un univers de gratuité) mà nó là thử thách đắt giá nhất trong các thử thách (il [le surréel] est la plus coûteuse des épreuves), có thể nó là một thế giới không được chờ đợi nhưng có những đóng góp cao độ có thể kiểm chứng được, [đó là] một thế giới bó buộc và được sống trải. Siêu thực không phải là cái tưởng tượng, nó là vòm trời tất cả thi ca được thiết lập và chấp nhận những mạo hiểm và vì vậy nó có rất lâu trước sự định vị và thiết lập thành hệ thống. Theo Dominique Fourcade thì René Char có một “chủ thuyết siêu thực” riêng được biểu đạt suốt từ Le Marteau sans Maître, Placard pour un Chemin des Écoliers (1937), Dehors la Nuit est Gouvernée (1938), Le Visage nuptial khác hẳn quan niệm về siêu thực do chủ nghĩa Siêu thực quan niệm và như vẫn thường được hiểu: “Những bài thơ trong Le Marteau sans Maître xoay quanh sự khai mở riêng của chúng. [...] Chân lý của nhãn quan, việc tạo thành vũ trụ siêu thực đạt được ở đó bằng cái giá của một sự xung đột phức tạp những hình ảnh từ đó xuất phát sự dễ dàng phi thường để chuyển dịch của thi sĩ, để sắp đặt trong vũ trụ này  mà không để mất đi tình trạng bất an cao độ.”[318] Quay trở lại giai đoạn thi ca Pháp trong không khí của sự chen chúc trổi dậy (climat d’ètreinte ascensionnelle) những năm 30 thế kỷ trước Dominique Fourcade nhìn thấy ở thi ca René Char một sự thay đổi không phải về cái siêu thực (le surréel) mà về cái thực (le réel). Trong những năm rực sáng sau đó – như trong bài thơ xuôi Rémanence trong tập Dans la Pluie Giboyeuse (O.C. trang 457) 1967 cho thấy sự tái xuất hiện nơi ký ức trong tim (memoire-cœur) của Char chính khuôn mặt của người thiếu nữ ba mươi sáu năm trước được nói tới trong bài thơ Le Climat de Chasse ou l’Accomplissement de la Poésie – điều này cho thấy tuy ân sủng của phi thực bất biến tiếp tục được dâng hiến  nhưng cái thực của thi sĩ đã có những hoán chuyển dẫn đến tính chất siêu thực của cuộc đời thi sĩ: cuộc đời đó chính là bài thơ.

[314] Dominique Fourcade, Essai d’introduction trong L’Herne: Rene Char trang 25: Peut-on lui nommer un ascendant en poésie? Les poètes sont toujours en filiation, et en ce sens Char est fils de Rimbaud.
[315] Nous étions quelques-uns d’une solitude et d’une vulnabilité telles que je pense nous serions morts s’il n’y avait pas eu cette écriture. Je n’aurai pas pu absorber beaucoup plus tôt. Mais quand j’ai ouvert ce livre, s’il en n’était pas en mon pouvoir d’écrire de la poésie, il était assurement à ma portée d’en lire et donc de la vivre. Enfin de la poésie de mon temps, qui ne se reconnaît dans ce désir! Je l’ai respirée de toutes mes forces.
[316] Sđd trang 23: À ouvrir le recueil, on ne peut se défendre du sentiment que la bouche y veut constamment gagner sur la main; veut parler, veut crier, jurer même plus vite, plus fort que la main n’écrit, ne peut parler. Cependant, le murmure de la main en poésie toujours l’emportera; [et la pure parole vraie, le sens-son neuf et imputrescible, ce dont l’avenir a une faim perpétuelle et qu’il ne cessera de reconnaître comme sien, c’est la main minutieuse et (relativement) plus lente qui le procure.] En poésie, c’est la main, non la bouche, qui franchit authentiquement le mur du sens-son.
[317] Sđd trang 24: Le monde du Le Marteau sans Maître est d’aileurs un monde regardé de haut en bas, et non l’inverse. Un monde découvert et non un monde constaté. Il nous semble voir de nos yeux le poète s’y jeter et écrire. Seule l’inspiration brise l’étau du temps.
[318] Sđd trang 29: La verité de la vision, le rendu de l’univers surréel s’y obtiennent au prix d’un complexe conflit d’images duquel émane la prodigieuse aisance du poète à se mouvoir, à s’organiser dans cet univers sans que rien se perde de l’intense mal-être.
(còn tiếp)
đào trung đạo




Nguyễn Thị Hải



  Áo con thơ
 
Vết bẩn mới chồng lên vết dơ cũ
Chiếc áo đứa con mặc ngày hôm qua
Những ngày trước nữa
Hình bóng con chạy tung tăng trên con đường thời gian
Từ lúc nhận chiếc áo mới may trên tay mẹ
Những âm thầm của da thịt con
Những giấc mơ đơn độc của con
Cuối cùng lại trở về với mẹ
Trong manh áo cũ sờn quen thuộc
Mẹ nâng niu
Mẹ giặt vò bằng đôi bàn tay ưu tư cần mẫn
Nước ao trong vỗ mãi tiếng lòng của mẹ


Nhà người tôi yêu ở giữa làng

Nhà người tôi yêu ở giữa làng
Lúc chưa yêu tôi hằng đi ngang đấy
Nhìn như nhìn mọi căn nhà xung quanh

Đến ngày dù không đi ngang đấy
Căn nhà vẫn cứ hiện ra
Khác biệt mọi căn nhà

Tình yêu tôi đơn phương thiết tha
Tự đầy rồi vơi
Tự mơ rồi tỉnh
Căn nhà ở giữa làng
Bình dị như mọi căn nhà ở làng quê tôi



Friday, December 29, 2017

Nghiêm Xuân Hồng

Đọc lại một bài thơ cũ của nhà văn Nghiêm Xuân Hồng viết năm 1984 ở Seattle. Bài thơ có sự tuôn chảy của chữ, của nhạc lòng thả vào buổi chiều thanh thoát cô độc. Nhưng có lẽ cái lôi cuốn nhất của bài thơ, với tôi, là cái mênh mông của ảo vọng trí thức. Thơ đôi khi là điện giật giây phút của trí tuệ. Mấy chục năm trôi qua, bài thơ vẫn điện giật khi nó ở trước mặt tôi. Bài Thơ bị hắc cơ tấn công nên tôi có cơ hội tiếp xúc lại, để đưa bài thơ lên lại trên Gió O một cách rất trân trọng và yêu quý (lê thị huệ)












 
photo: faculty.jsd.claremont.edu/dguthrie



ĐỘC ĐĂNG ĐÀI



Chiều chiều, hắn lững thững tản bộ tới đó là y như thấy mỏi cẳng.
Có lẽ nơi đó có mấy lùm cây um tùm rậm rạp
Trông mát rượi, mà hắn thì thích lùm cây.
Nơi đó có mấy bức thềm tam cấp
Của ngôi nhà thờ Methodist Church.
Nên hắn hay ngồi trên thềm
Hút thuốc phì phèo nghĩ ngợi vẩn vơ



Vừa lúc nãy, hắn đi qua mấy cái sạp lồng kính bày bán báo
Thấy đăng tải 1 giòng tin: Sartre, giant of philosopher, dies
Hắn lẩm bẩm: Thì ra y đã chết, đã chết, nhà triết gia của những con ruồi Hy Lạp
Nhưng không hiểu chết ra sao ?
Hay lại chết trong một cơn lucidité đầy mê mê muội muội ?
Hắn thầm nghĩ tay này có qúa nhiều chất não.
Đã nhìn thấy cái rỗng - không của tâm - thức con người
Nhưng không biết đường nhập vào cái không - hư ấy
Nên rút cuộc, chỉ vẽ ra một mê đồ vọng - tưởng
Rồi sa lầy trong đó như con ruồi mắc lưới nhện tơ !!



Ngồi nơi đây, hắn lặng nhìn quang cảnh buổi chiều chủ nhật.
Phía trước mặt là chiếc sân trống nhà trường
Chỉ có mấy đứa nhỏ cầm chầy đương quật bóng base ball
Quang cảnh buồn nản, trống vắng, ngắc ngoải
Vì những ngày cuối tuần tàn rỗi, và mai là ngày thứ 2
Ngày mai thì mặt trời vẫn mọc, nhưng mặt trời của lầm than
" ... Các người sẽ phải đổ một bát mồ hôi
Để đổi lấy một khúc bánh mì ..."

Đó là lời dạy chua xót của một bậc có nét mặt thiên thần
Nói vọng lại từ miền sa mạc Galilee
Ôi ! Khúc bánh mì nâu hay bát cơm đỏ quạch
Thì cũng đồng một vị nhọc nhằn cay đắng ...
Chợt nhìn thấy trên vách nhà thờ một tờ khuyến tấn
Có hàng chữ  in to bằng nắm tay:
Be awake
Jesus will come again

Đó là một điệp khúc tín giải vững vàng
Hay chỉ là ảo-ảnh hy-vọng tương tự như chiếc cầu vồng khí ánh dương xuyên làn mưa bụi ?...
Nhưng loài người trên trái đất hình như nhọc nhằn qúa rồi
Và đã chia thành 2 phe rõ rệt:
Một đa số thì bị đày ải, đói khát, rã rời, kinh hoàng như một lũ ứng viên địa ngục
Còn 1 thiểu số thì mê loạn: cuồng điên, nghiền máu và mùi thuốc súng như một đàn qủy đầu thai
Nên con người đành phải nhắc lại điệp khúc: Let Thou Come Again
Nhưng các bậc Thần Linh hình như còn lẩn mặt
Có lẽ chán nản vì mùi xú khí nồng nặc của loài người
Nên chưa chịu chìa bàn tay có ngàn mắt để độ trì cứu chuộc ...
Bao giờ đây ?  Bao giờ đây ?



Hắn nghĩ lan man, nhớ tới mấy lời trong kinh L'Ecclesiaste:
"Hư Không của Hư Không .... Tất cả chỉ là Hư Không ..."
Nếu vậy, thì những niềm thống khổ kia cũng chỉ là hư không sao ?
Như vậy, thì hơi đâu mà nhỏ lệ than van ? ...
Bỗng nghe những nhịp chân chạy lạch bạch
Thì ra một cặp vợ chồng trẻ
Mặc quần ngắn phô cặp đùi phốp pháp
Đương cùng nhau chạy bộ theo kiểu đường trường
Theo sau là một con chó lông xù thỉnh thoảng kêu lên ăng ẳng
Cả bọn qua rồi lại thấy một cô gái đi tới
Giầy vải, quần tím buộc túm mắt cá
Tóc vàng, mắt xanh, môi đỏ
Đôi vú căng phồng dưới làn áo có in mấy chữ Handle with care
Nét mặt mãn nguyện về tấm hình hài
Hắn ngẩn ngơ hồi lâu suy tư về đôi vú của Eva
Rồi bùi ngùi tự hỏi:
Không lẽ hai trái đồi tươi mát ấy lại chính là rừng rậm của khổ đau ?
Không lẽ 2 trái cấm địa đàng ấy lại là Không Hư  cả sao ! ?



Lòng hắn chợt vui lên: một con chim gáy đang đủng đỉnh khoan thai
Bước những bước nhỏ qua mặt đường nhựa
Rồi leo lên lề cỏ
Hắn nhìn kỹ con chim có bộ lông nầu hồng phơn phớt
Lần đầu tiên, hắn thấy con chim có phong thái
Ung dung tao nhã như cô gái không đẹp nhưng có phong tư
Con vật bước lăng xăng trong cỏ, chẳng biết định đi đâu ....
Vừa lúc ấy thì cặp vợ chồng chạy bộ
Chắc đã qua hết lộ trình nên vòng trở lại
Con chó thấy hắn ngồi lù lù bất động
Bèn dừng lại, vểnh mõm sủa gâu gâu
Nó sủa một cách chân thành tin tưởng
Khiến hắn nẩy tình thương con vật
Nên nhủ thầm:
Này chó, đừng nên sủa nữa
Đừng nên thêm thắt những âm thanh vô nghĩa vào cái vũ trụ đã qúa vô nghĩa này
Nếu mi cứ tiếp tục sủa như vậy
Thì cái nghiệp chó của mi vẫn cứ dằng dặc triền miên
Hãy chịu khó suy tư một chút
Và cầu xin chuyển thân thành 1 hình hài khác thì hơn
Còn 2 ông bà chủ mi nữa
Nếu chỉ biết nâng niu chi chút cái mảnh hình hài bị thịt
Thì ngàn vạn năm nữa, trái đất này vẫn mãi mãi
Ly-loạn-loạn-ly



Hắn ngồi đã thấy ê đít, nên uể oải đứng dậy
Ngước mắt nhìn 1 lần nữa tờ giấy trên tường
Jesus will com again
Rồi bước đi.
Nhưng ra tới đầu đường lại nhìn thấy con chim gáy
Con vật không đi lăng xăng nữa, mà đương nằm phủ kín 2 chân
Nó nằm yên ổn, bình thản giữa vũ trụ quay cuồng
Đôi mắt nhỏ tròn, hiền hoà lấp loáng như 2 chấm mực.
Người và chim nhìn nhau, nhưng con vật vẫn không nhúc nhích
Tròng mắt long lanh như thoáng một nụ cười thầm ...
Hắn bỗng lẩm bẩm: Biết sao được ! Biết sao được !
Có thể, có thể lắm, HE will come again
Rồi hắn bước vòng xuống mặt đường để nhường lối cho chim

Nghiêm Xuân Hồng


(báo Đất Mới, Seattle, số 195, ngày 29-2-1984)

Kịch tác gia Nghiêm Xuân Hồng nổi tiếng với vở kịch Người Viễn Khách Thứ Mười. Ông di cư vào Nam năm 1954. Đã từng tham chánh làm đến chức bộ trưởng. Ông là bạn thân của nhà văn Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, và cùng nhau thành lập nhóm Quan Điểm. Quan Điểm là một trong những nhóm trí thức sinh hoạt văn chương lẫn chính trị ở Miền Nam trong cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Nhà văn Nghiêm Xuân Hồng tỵ nạn sang Hoa Kỳ năm 1975. Ở hải ngoại tiểu thuyết đáng chú ý của ông là quyển Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc. Nhưng tiếc là Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc không được độc giả lẫn các nhà phê bình Việt Nam hải ngoại đoái hoài tới. Ông mất tại Nam Cali năm 2000

http;//www.gio-o.com/NghiemXuanHongHaoQuangBui
 © 2006 gio-o

Wednesday, December 27, 2017

Nguyễn Thị Hải phiên dịch



Nhà thơ Dư Quang Trung tạ thế



Nhà thơ Dư Quang Trung (余光中) vừa qua đời vào ngày 14.12.2017 ở thành phố Cao Hùng, Đài Loan, hưởng thọ 90 tuổi.
Nhà thơ Dư Quang Trung sinh năm 1928, tại Nam Kinh, nguyên quán Vĩnh Xuân, Phúc Kiến. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học hiện đại Đài Loan, bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ khi còn là sinh viên đại học. Ngày 23.10 vừa qua, trường đại học Trung Sơn, Đài Loan tổ chức mừng thọ ông 90 tuổi, đây là lần xuất hiện cuối cùng của ông trước công chúng. Nhà thơ hài hước cho biết, có nhiều người rất hiếu kỳ rằng tuổi tác của ông lớn như vậy mà vẫn làm thơ, viết văn sao? Ông cười nói, tại sao mọi người không hỏi tôi có còn thở hay không? Ông cho rằng, sáng tác và hít thở đối với ông là việc hết sức tự nhiên, không ảnh hưởng bởi yếu tố tuổi tác.
Đầu thập niên 1950, ông theo gia đình di cư sang Đài Loan, kể từ ngày đó Trung Quốc đại lục trở thành nỗi “hương sầu” canh cánh trong tâm hồn ông. Bài thơ “Hương sầu tứ vận” (Bốn bài thơ sầu hương), với những câu thơ hoài hương tha thiết “Cho tôi một gáo nước Trường Giang, ơi nước Trường Giang” “Cho tôi một phiến Hải đường hồng, ơi Hải đường hồng”, “Cho tôi một mảnh hoa tuyết trắng, ơi hoa tuyết trắng”, “Cho tôi một đóa Lạp mai thơm, ơi Lạp mai thơm”, được phổ thơ trở thành một ca khúc được yêu thích ở cả hai bờ eo biển Đài Loan và Trung Quốc đại lục. Ca khúc hát lên tình cốt nhục đồng bào và nỗi sầu ly cách.




1.

Lời đáp ư lời đáp

Tìm trong gió mênh mang





Một cặp mắt, có thể tỏa sáng mấy mươi năm?

Một vành môi, bao nhiêu lần nhấp mềm chung rượu?

Một mái tóc, mấy lần thay lược?

Một trái tim, mấy độ thanh xuân?

Lời đáp ư lời đáp

Tìm trong gió mênh mang



Vì sao, thư bay hoài trên mây?

Vì sao, vé xe cầm trong tay?

Vì sao, ác mộng kề dưới gối?

Vì sao, ôm em chỉ là tấm áo choàng?

Lời đáp ư lời đáp

Tìm trong gió mênh mang



Một mảnh đại lục, phải chăng là tổ quốc của mi?

Một hòn đảo, phải chăng là mái nhà của mi?

Một chớp mắt, phải chăng là ít năm?

Một đời người, phải chăng là vĩnh viễn?

Lời đáp ư lời đáp

Tìm trong gió mênh mang

Tự chú:

* Cách trùng điệp câu trong bài thơ xuất phát từ bài hát “Để gió cuốn đi” (Blowin’in the wind) của nhạc sĩ kiêm thi sĩ Bob Dylan. Nguyên văn câu ấy là The answer, my friend,
is blowin' in the wind, The answer is blowin' in the wind.
(Lời đáp xa vời, để gió cuốn đi bên trời, Để gió cuốn đi, bạn ơi – Ngô Tự Lập dịch)
* Một mảnh đại lục, chỉ đại lục mới, cũng có thể chỉ đại lục cũ: đại lục mới không thể ở lâu, đại lục cũ từ lâu không thể quay về.
  

2.

Dân ca



Truyền thuyết phương Bắc có một bài dân ca

Chỉ buồng phổi sung mãn của sông Hoàng Hà mới hát nổi

Từ Thanh Hải đến Hoàng Hà

Gió đã nghe thấy

Cát đã nghe thấy

Nếu như Hoàng Hà đóng thành sông băng

Vẫn còn Trường Giang hát lên bằng âm giọng mũi tràn trề mẫu tính

Từ cao nguyên đến bình nguyên

Cá đã nghe thấy

Rồng đã nghe thấy

Nếu như Trường Giang đóng thành sông băng

Vẫn còn tôi, vẫn còn Hồng Hải của tôi đang gào thét

Từ cơn sóng sớm đến thủy triều khuya

Tỉnh cũng nghe thấy

Mộng cũng nghe thấy

Một ngày máu tôi đóng thành băng

Vẫn còn máu của bạn, máu của anh đang ca hát

Từ nhóm máu A đến nhóm máu O

Khóc cũng nghe thấy

Cười cũng nghe thấy



Nguyên văn


1.
答案啊答案
在茫茫的风里
一双眼,能燃烧到几岁?
一张嘴,吻多少次酒杯?
一头发,能抵抗几把梳子?
一颗心,能年轻几回?
答案啊答案
在茫茫的风里
为什么,信总在云上飞?
为什么,车票在手里?
为什么,噩梦在枕头下?
为什么,抱你的是大衣?
答案啊答案
在茫茫的风里
一片大陆,算不算你的国?
一个岛,算不算你的家?
一眨眼,算不算少年?
一辈子,算不算永远?
答案啊答案
在茫茫的风里

自注
本诗的叠句出于美国年轻一代最有才华的诗人与民歌手鲍勃·迪伦的一首歌Blowin'in the Wind。原句是The answer,my friend,is blowin'in the wind,the answer blowin'in the wind.“一片大陆”可指新大陆,也可指旧大陆:新大陆不可久留,旧大陆久不能归。



2.
民歌
传说北方有一首民歌
只有黄河的肺活量能歌唱
从青海到黄海
风也听见
沙也听见
如果黄河冻成了冰河
还有长江最最母性的鼻音
从高原到平原
鱼也听见
龙也听见
如果长江冻成了冰河
还有我,还有我的红海在呼啸
从早潮到晚潮
醒也听见
梦也听见
有一天我的血也结冰
还有你的血他的血在合唱
A型到O
哭也听见
笑也听见